Đảng bộ Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang: Học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá III

hực hiện Kế hoạch số 59-KH/ĐUK ngày 27/7/2022 của Đảng ủy Các Cơ quan Tỉnh; chiều ngày 14/9/2022, Đảng bộ Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá III cho toàn thể các đồng chí đảng viên trong Đảng bộ cùng Trưởng/Phó các Khoa/Phòng, Điều dưỡng trưởng – Kỹ thuật viên trưởng và Trưởng các Tổ chức đoàn thể. Về dự và chỉ đạo Hội nghị là sự có mặt của đồng chí Khổng Đức Thanh – Phó Bí thư Đảng ủy Các Cơ quan Tỉnh.

Toàn thể cán bộ, đảng viên Đảng bộ Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang tham gia học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá III
Đồng chí Khổng Đức Thanh – Phó Bí thư Đảng ủy Các Cơ quan Tỉnh phổ biến 04 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá III

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được trực tiếp đồng chí Khổng Đức Thanh – Phó Bí thư Đảng ủy Các Cơ quan Tỉnh phổ biến, quán triệt 04 Nghị quyết quan trọng tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII gồm: Nghị quyết số 18 – NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”; Nghị quyết số 19 – NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 21 – NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, cụ thể:

Nghị quyết số 18 – NQ/TW về Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao nêu rõ 05 quan điểm và 06 nhóm giải pháp để thực hiện hiệu quả mục tiêu tổng quát là Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.

Nghị quyết số 19 – NQ/TW về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” chỉ rõ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là 03 thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời; có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Với quan điểm này, Nghị quyết số 19 – NQ/TW hướng tầm nhìn đến năm 2045 Nông dân và cư dân nông thôn văn minh, phát triển toàn diện, có thu nhập cao. Nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hoá quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong và ngoài nước, công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản hiện đại, xuất khẩu nhiều loại nông sản đứng hàng đầu thế giới. Nông thôn hiện đại, có điều kiện sống tiệm cận với đô thị, môi trường sống xanh – sạch – đẹp, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.

Nghị quyết số 20 – NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới” với quan điểm chỉ đạo Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế Nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tập thể phải tôn trọng bản chất, giá trị, nguyên tắc hoạt động của kinh tế tập thể, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương, vùng, miền và cả nước. Kinh tế tập thể với nhiều hình thức tổ chức kinh tế hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã…) trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Phấn đấu đến năm 2030 cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác với 02 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 08 triệu thành viên; 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên. Bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá (trong đó có ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị). Có trên 5.000 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hoá gắn với liên kết sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Tầm nhìn đến năm 2045 phấn đấu thu hút tối thiểu 20% dân số tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Mở rộng quy mô hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, chất lượng hoạt động ngang tầm các nước trong khu vực và trên Thế giới. Bảo đảm trên 90% tổ chức kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả, trong đó có ít nhất 75% tham gia các chuỗi liên kết. Phấn đấu có ít nhất 03 tổ chức kinh tế tập thể nằm trong bảng xếp hạng 300 hợp tác xã lớn nhất toàn cầu do Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) công nhận. Các tổ chức kinh tế tập thể đều áp dụng công nghệ, nhất là chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

Nghị quyết số 21 – NQ/TW về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới” nhấn mạnh Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Ðảng với Nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Đội ngũ đảng viên chính là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên và thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Mục tiêu đến năm 2030 hàng năm có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; phấn đấu 100% thôn, bản, tổ dân phố có chi bộ. Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hàng năm trong giai đoạn 2025 – 2030 đạt từ 03 – 04% tổng số đảng viên. Về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết 21 – NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII yêu cầu củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, lựa chọn nhân tố tích cực trong cán bộ, đoàn viên, hội viên, quần chúng, người có uy tín để giới thiệu cho Đảng.

Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá III là hội nghị có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp cán bộ, đảng viên Đảng bộ Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản, cốt lõi mà Nghị quyết đề ra; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền tới toàn thể đảng viên và Nhân dân để nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng.

Hiền Chúc

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *